Sinh viên đang tiếp cận thông tin bằng loại hình báo chí và phương tiện nào?

Bất Động Sản
Rate this post

Tại hội thảo khoa học “Chuyển đổi số của báo chí Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, TS Nguyễn Thị Thúy Hằng, Viện Đào tạo Báo chí và Tuyên truyền (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã công bố khảo sát “Đặc điểm của xã hội số và những cơ hội, thách thức đối với chiến lược chuyển đổi số của báo chí Việt Nam dưới góc nhìn của độc giả ”.

“Dù mẫu khảo sát rất nhỏ (183 sinh viên), mẫu ngẫu nhiên, không đủ đại diện nhưng cũng cho thấy sự thay đổi trong hoạt động truyền thông, giải trí của giới trẻ Việt Nam hiện nay”, TS Nguyễn Thị Thúy Hằng nói.

Sự phát triển của công nghệ và sự tăng trưởng mạnh mẽ của số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam là cơ hội cho quá trình chuyển đổi số của nền báo chí Việt Nam. Ngày 19/11/1997, mạng internet chính thức được cung cấp cho người dân cả nước, tuy nhiên dịch vụ được cung cấp trên hạ tầng mạng điện thoại cố định, tốc độ truy cập còn hạn chế. Đến năm 2003, internet băng thông rộng ADSL (MegaVNN) xuất hiện trên thị trường. Năm 2009, internet cáp quang FTTH được triển khai với tốc độ truy cập mạng tăng lên đáng kể so với ADSL. Đây cũng là thời điểm VinaPhone khánh thành mạng 3G, mở ra thời kỳ bùng nổ internet cho điện thoại di động tại Việt Nam. Từ năm 2010, internet Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc với xu hướng chuyển dịch từ dịch vụ cáp đồng sang cáp quang. Năm 2016, dịch vụ 4G chính thức ra mắt tại Việt Nam. Vào năm 2020, dịch vụ 5G đã được đưa vào thử nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Hiện 3 nhà mạng đang thử nghiệm thương mại 5G với quy mô nhất định.

Công nghệ phát triển đã làm tăng đáng kể số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam. Nếu năm 2000, chỉ 0,25% dân số sử dụng Internet thì 20 năm sau, số người sử dụng Internet đã chiếm 73,2% dân số. Theo Báo cáo kỹ thuật số 2022 của WeAreSocial và Hootsuite, Việt Nam là một trong 20 quốc gia có lượng người sử dụng Internet cao nhất thế giới với 72,1 triệu người (chiếm 73,2% dân số), tăng 4,9% so với cùng kỳ. giai đoạn 2021.

Biểu đồ thể hiện thời gian sử dụng internet của sinh viên.

Một cuộc khảo sát trên 183 sinh viên trong độ tuổi từ 18 đến 22 cho thấy chỉ có 25,1% sinh viên sử dụng Internet dưới 6 giờ mỗi ngày, 35% sinh viên dành 6-7 giờ mỗi ngày, 31,1% sinh viên sử dụng 8-9 giờ. mỗi ngày, và 8,7% sinh viên dành hơn 10 giờ mỗi ngày trên internet. Như vậy, 75% thanh niên trong cuộc khảo sát sử dụng Internet hơn 6 giờ mỗi ngày, đây là điều kiện rất thuận lợi cho thị trường báo chí số.

Ở góc độ người đọc, thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của giới trẻ ngày nay đang có sự chuyển dịch. Mạng xã hội là phương tiện giao tiếp yêu thích nhất của sinh viên. Khi được hỏi “Bạn thích sử dụng phương tiện nào nhất và tại sao?”, Đa số sinh viên trả lời trên mạng xã hội “vì nó được cập nhật liên tục và nhanh chóng”, “vì tính tương tác của bài viết cao hơn giúp người đọc có nhiều góc nhìn hơn về một vấn đề” , “do dễ thao tác, kết nối và có thể cập nhật thông tin, giải trí cùng lúc”, “thời đại công nghiệp”. Trong thời đại công nghệ số hiện nay, mạng xã hội ngày càng phát triển với các trang nổi tiếng và nội dung đăng tải vô cùng phong phú, đa dạng. , vừa thuận tiện cho việc học tập, giải trí hay chăm sóc sức khỏe, kết nối bạn bè từ khắp nơi trên thế giới “…

Theo TS Nguyễn Thị Thúy Hằng, đây thực sự là một thách thức đối với người làm báo khi phải cạnh tranh với MXH. Mục đích sử dụng mạng xã hội của giới trẻ chủ yếu là để giải trí (96,2%), cập nhật thông tin (95,6%), học tập (89,6%) và kết nối (88,5%).

Tiếp đó, mạng xã hội đã vượt qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo in, truyền hình, phát thanh, báo điện tử để trở thành kênh tiếp nhận tin tức, thời sự phổ biến nhất với học sinh. Mạng xã hội được sinh viên khảo sát sử dụng phổ biến nhất là Facebook (99,5%), tiếp theo là Youtube (84,7%), Instagram (77,6%), Zalo (70,5%), Tiktok (63,4%) và các mạng khác. các mạng xã hội khác như Lotus, Viber, WhatsApp … (13,7%). Tiktok tuy là mạng xã hội mới nhưng đã phát triển rất nhanh và được giới trẻ khá yêu thích.

Đáng chú ý, chỉ 5,5% trong số 183 sinh viên được khảo sát nhận được tin tức qua báo in và 21,3% qua đài phát thanh, trong khi 73,8% qua ti vi, 86,3% qua ti vi. báo mạng và 86,9% nhận tin qua mạng xã hội.

Chú thích ảnh
Phương tiện tiếp cận thông tin của sinh viên.

Báo điện tử và mạng xã hội được sinh viên lựa chọn nhiều nhất vì tốc độ cập nhật thông tin nhanh chóng, tiện lợi và tính tương tác cao. Đây cũng là thách thức đối với những người làm báo Việt Nam dưới góc nhìn của độc giả.

Cuộc khảo sát cũng chỉ ra thách thức về nguồn nhân lực cho chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí. Vai trò của nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao trong chuyển đổi số là rất quan trọng, nhưng có thể nói đây cũng là một trong những khó khăn lớn nhất trong quá trình chuyển đổi số của báo chí Việt Nam. Về công nghệ thông tin, năm 2020 Việt Nam sẽ thiếu 400.000 lao động, năm 2021 con số này sẽ rơi vào khoảng 500.000 lao động. Để chuyển đổi số thành công, không chỉ cần đội ngũ phóng viên, biên tập viên có chuyên môn nghiệp vụ giỏi mà còn phải có những hiểu biết mới về công nghệ. Điều đó đặt ra thách thức đối với việc đào tạo nhân lực truyền thông trong các trường đại học ở Việt Nam, cũng như thách thức đối với các nhà báo trong việc đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số.

Theo TS Nguyễn Thị Thúy Hằng, chuyển đổi số đang là yêu cầu cấp thiết của báo chí Việt Nam. Yêu cầu đó có nhiều thuận lợi, từ ý chí chính trị và chính sách thúc đẩy chuyển đổi số ở tầm chiến lược. Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng Chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho các cơ quan báo chí, trong đó hỗ trợ 3 nền tảng giúp cơ quan báo chí chuyển đổi số: Nền tảng quản lý tòa soạn điện tử, cho phép xây dựng tòa soạn theo công nghệ hiện đại, đưa toàn bộ hoạt động báo chí lên môi trường số ; Nền tảng phân tích thông tin, dư luận xã hội trên mạng xã hội, giúp các cơ quan báo chí nắm bắt kịp thời thông tin, dư luận xã hội; Hỗ trợ phòng chống tấn công và ứng phó khẩn cấp cho cơ quan báo chí để bảo vệ hoạt động số cho cơ quan báo chí.

Dù còn nhiều thách thức nhưng khi báo chí Việt Nam hiểu công chúng, hiểu nguồn nhân lực, hiểu công nghệ, thể chế hóa các quan điểm, chính sách thành các quy định cụ thể trong hoạt động chuyển đổi số. , Báo chí Việt Nam sẽ vượt qua và thực hiện chuyển đổi số thành công.

Leave a Reply

Your email address will not be published.