Tại sao các nhà sư Nhật Bản dù đã xuất gia nhưng vẫn kết hôn?

Bất Động Sản
Rate this post

Việc một nhà sư kết hôn để truyền Phật pháp tại một ngôi chùa, được gọi là một nhà sư tu tập theo trường phái “Tăng già mới”, là một việc nhỏ và bình thường của Phật giáo Nhật Bản.

Ở Việt Nam, cũng có một tông phái… trong đó tất cả chư tôn đức đã lập gia đình và chỉ ăn chay lâu nhất là 3 tháng của khóa tu mùa hè. Trong chiến tranh Việt Pháp, các nhà sư thường đứng lên cùng nhân dân chống thực dân Pháp, quen hơn với nếp sống xã hội nên ít ăn chay mà chỉ ăn “mặn”.

Năm 1950, chú Đoàn Trung Côn cũng là người chấp nhận phong trào “Tấn Sang” đưa về Việt Nam và thành lập Tịnh độ tông Phật giáo Việt Nam từ năm 1955, nhưng phong trào này chỉ hoạt động trong phạm vi hội. “Tu sĩ Trường Tịnh độ” vẫn là một cư sĩ thuần thành. Năm 1963, Thầy Nhất Hạnh, cũng đã đem phong trào “Tấn Tăng” áp dụng vào Phật giáo Việt Nam, nhưng không được Hòa thượng chấp nhận, các Hòa thượng, Tăng Ni phản đối gay gắt.

Hình minh họa.

Phong trào “Tăng già mới” của Nhật Bản, gồm những nhà sư có học thức và tài năng, Hiệp hội của những người xuất gia cho phép các nhà sư tham gia công tác xã hội, trong cung điện, các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương hoặc địa phương. làm việc trong các công ty, xí nghiệp, nói chung là lao động ngoài xã hội với tư cách là giáo dân; đồng thời đời sống kinh tế của họ chỉ phụ thuộc vào đồng lương của họ, và không còn bị ảnh hưởng bởi sự phát triển cúng dường của Phật tử.

Theo giáo sư cư sĩ Nogawa Hiroyuki, hiện đang giảng dạy tại Đại học Huyền Trang Đài Loan, lý do tại sao các nhà sư ở Nhật Bản có mái ấm gia đình như sau:

“Ngày nay ở nhiều tu viện ở Nhật Bản, việc các nhà sư có mái ấm gia đình là điều bình thường, không phải là điều ngạc nhiên. Phật giáo ở Nhật Bản so với các nước tiên tiến trên thế giới có phần tiên tiến hơn, do ảnh hưởng nhiều đến dân số và tính quyết đoán chuẩn mực. Bên cạnh đó, các hoạt động Phật sự của các nhà sư rất phong phú và đa dạng, mang tính chất độc lập, chú trọng đến nội tâm tu tập hơn là hình thức Tăng đoàn ”.

Các hoạt động Phật giáo ở Koyashan từ năm 1993 đến năm 1994 của hệ phái Shingon, với dòng dõi phong kiến, cha truyền con nối, dù có bao nhiêu người chỉ trích, họ vẫn bình yên như ngày nào. tuyên truyền phong cách truyền giáo của mình.

Khi có người hỏi tại sao tổ tiên của họ lại từ bỏ vị tỳ khưu và nguyện sống một cuộc sống gia đình bình thường, kết hôn và có tài sản thừa kế như vậy, họ chỉ im lặng và không nói bất cứ điều gì cụ thể. Nó cũng nói lên tư tưởng tự do của các nhà sư “Tăng đoàn mới” của Phật giáo Nhật Bản.

Theo các tài liệu liên quan đến thánh nữ Thân Loan (1173-1262), người sáng lập Tịnh độ Chân tông về việc lập gia đình, đã có nhiều bài báo ca tụng sự hưởng ứng và được đa số người Nhật thời bấy giờ chấp nhận. Đồng tình với việc làm này, phong trào “Tăng Tăng” đã lan rộng, hệ thống Tăng già thuần túy không còn kiểm soát họ nữa, người xuất gia thế tục đó, ở Việt Nam gọi là “thầy cúng”.

Việc ông Thân Loan, tông phái Tịnh Độ Chân Như chấp thuận hôn nhân tu hành theo đạo Phật trong giới bình dân và họ cho rằng không có gì sai? Nhưng Phật giáo Nhật Bản từ thời cận đại, ngoài Tịnh độ Chân tông có quan điểm đó, 12 trường phái còn lại, như Pháp Tường, Hoa Nghiêm, Luật, Thiên Thai, Shingon, Tịnh Độ, Thọ, và Viên Thông Niệm Phật. Nghiêm cấm tên Nhất Liên, Lâm Tế, Tào Động, Hoàng Bá Tông…, dù vì lý do cao siêu nào đi nữa, các nhà sư vẫn không được kết hôn.

Trụ trì các chùa Nhật Bản hầu hết là con trai của các thế hệ trụ trì trước.  Mặc dù giàu có nhưng hầu hết các nhà sư ở Nhật Bản đều khiêm tốn.  Hình minh họa.

Trụ trì các chùa Nhật Bản hầu hết là con trai của các thế hệ trụ trì trước. Mặc dù giàu có nhưng hầu hết các nhà sư ở Nhật Bản đều khiêm tốn. Hình minh họa.

Tịnh độ của tông phái chân chính của Nhật Bản

Vào thời đại Giang Hồ (Edo 1603 ~ 1867), Phật giáo trở thành quốc giáo. Tất cả người dân đều là tín đồ của một ngôi chùa, lúc này các ngôi chùa đều trở thành nơi đăng ký hộ khẩu, lưu ký hài cốt, bài vị, lưu giữ gia phả của các tín đồ. Chính vì những công việc này, thiền viện cần rất nhiều người có chuyên môn để quản lý lĩnh vực này.

Vào thời điểm đó, những người mới xuất gia trẻ tuổi xuất gia trong các ngôi chùa ở quê hương, học kinh điển cơ bản, hầu hết đều rời chùa riêng để đến kinh đô tu học, nơi các trường học được thành lập bởi các tông phái. có rất nhiều giáo sư giỏi và kinh tế ổn định. Lúc này Nhật Bản không có chiến tranh, văn hóa phát triển, đất nước thanh bình. Kết quả là tốt xấu cùng tồn tại, ở thành Osaka và Đông Kinh kinh đô phồn hoa đô hội, những tiểu thư bất hạnh mới vào nghề đều bị cuốn vào sức hút của thế giới dâm đãng. giàu có và công danh, phạm giới luật của nhà Phật.

Tuy nhiên, lúc này Phật giáo là quốc giáo nên những nhà sư phạm giới sẽ bị tu viện và luật pháp nước nhà trừng trị. Từ nửa thế kỷ 19 trở đi, những người vi phạm giới luật đã bị đày đến Đảo Hachijo! Đây là hòn đảo ở phía nam thủ đô, không trồng được lúa, chỉ có khoai, cư dân sống rất vất vả.

Bị đày ra biển cũng là một cách tạo điều kiện cho họ xa rời chùa chiền, giới luật nhà Phật. Đồng thời, vì được học hành nên họ thường viết sách và soạn sách giáo khoa, hầu hết họ đều lấy chồng là người vùng này. có con cháu làm việc cho các cơ quan nhà nước và dạy học trong trường, cuộc sống tương đối ổn định, được mọi người đồng tình.

Sau năm 1840, các nhà sư được chùa cử đi tu học đã phạm giới nhiều đến mức chính quyền và Tăng đoàn không thể kiềm chế được nữa. Cuối cùng, sau khi học xong cũng có người cùng người họ lấy chồng về thăm quê, dẫn theo con cái. Sư phụ của họ khi đó vô cùng bức xúc, nhưng cuối cùng vẫn phải thu nhận những đồ đệ bất hiếu này.

Vì công việc hộ khẩu của tu viện không thể dừng lại được nên họ phải làm công việc này để phụng sự quê hương. Kết quả là Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh các tu viện ở nông thôn sau chùa phơi quần áo trẻ em. Tuy nhiên, họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu, mồ mả, bài vị tổ tiên.

Theo Global Times: Phật giáo, tôn giáo lớn thứ hai ở Nhật Bản sau Thần đạo, đã suy yếu trong những năm gần đây do nhiều ngôi chùa thiếu nguồn tài chính để duy trì hoạt động. Ngày càng có nhiều dự án sáng tạo được các ngôi chùa áp dụng để thu hút sự chú ý của mọi người và tăng thu nhập, bao gồm việc mở các phòng chờ nhạc jazz, tiệm biểu diễn thời trang và đêm nhạc. Hiphop.

Các nhà sư hiện đang được các cô gái Nhật “săn lùng” để lấy chồng trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Ở Nhật Bản, có một số giáo phái Phật giáo cho phép các nhà sư kết hôn và họ hiện là những người giàu nhất trong xã hội. Khi đến thăm một ngôi chùa Nhật Bản, người ta có thể bắt gặp hình ảnh các cô gái trẻ và các nhà sư trao đổi danh thiếp, mua tranh thư pháp hay túm tụm chụp ảnh cùng nhau. Người ta có thể thấy các nhà sư đi xe máy từ chùa ra ngoài làm công việc Phật sự.

Các nhà sư Nhật Bản đều là những người giàu có, vậy thu nhập của họ đến từ đâu? Trước hết, bán đất nghĩa trang, đất chôn cất là một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận ở một đất nước chật chội như Nhật Bản. Một khu đất để xây mộ có giá vài triệu yên. Hơn nữa, theo phong tục của người Nhật, phần mộ của người thân được chôn cất trong chùa, tuy đã bỏ tiền mua đất nhưng hàng năm họ phải trả tiền cho sư thầy chăm sóc phần mộ.

Từ xa xưa, các lãnh chúa và chư hầu đã có phong tục hiến đất cho các ngôi đền như một lễ vật để cầu xin phước lành hoặc sám hối. Những mảnh đất đó, trải qua nhiều thời đại, vẫn thuộc quyền sở hữu của nhà chùa và trở thành di sản để các nhà sư sinh sống.

Vì công việc hộ khẩu của tu viện không thể dừng lại được nên họ phải làm công việc này để phụng sự quê hương.  Kết quả là Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh các tu viện ở nông thôn sau chùa phơi quần áo trẻ em.  Tuy nhiên, họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu, mồ mả, bài vị tổ tiên.  Hình minh họa.

Vì công việc hộ khẩu của tu viện không thể dừng lại được nên họ phải làm công việc này để phụng sự quê hương. Kết quả là Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh các tu viện ở nông thôn sau chùa phơi quần áo trẻ em. Tuy nhiên, họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu, mồ mả, bài vị tổ tiên. Hình minh họa.

Thứ hai, tín ngưỡng tôn giáo của người Nhật khá độc đáo. Khi còn sống, nhiều người theo Thần đạo, hoặc Thiên chúa giáo, thậm chí là vô thần, nhưng sau khi chết nhất định sẽ trở thành tín đồ Phật giáo để về Tây phương cực lạc.

Để trở thành Phật tử, cần phải trải qua nghi lễ đưa người chết vào chùa để sư thầy đặt pháp danh. Thông thường, để có một cái tên hợp pháp, người ta phải trả hàng trăm nghìn yên; Nếu không đứng tên hợp pháp, nhà chùa sẽ không bán đất để chôn cất.

Thứ ba, những người xuất gia đi làm Phật sự, đọc kinh cũng có thu nhập lớn. Khi một người nào đó qua đời, người ta thường mời các nhà sư đến làm lễ và tụng kinh. Khi hoàn thành công việc, họ được chia một số tiền lớn.

Trụ trì các chùa Nhật Bản hầu hết là con trai của các thế hệ trụ trì trước. Mặc dù giàu có nhưng hầu hết các nhà sư ở Nhật Bản đều khiêm tốn. Tuy nhiên, họ có thể tham dự các buổi khiêu vũ và ăn thịt ngoài chùa và đặc biệt là có thể kết hôn và sinh con.

Sự việc trên không còn là hiện tượng, mà thành xã hội Phật giáo, phong trào “Tăng Tăng” của các nhà sư có vợ, có con đã thực sự trở thành tập quán sống “tự túc kinh sư”. Phật tử không còn phải cúng dường nữa và có một truyền thống ở Nhật Bản, giống như đời sống của các pháp sư ở Việt Nam! Đó cũng là câu chuyện bình thường của Phật giáo Nhật Bản tồn tại từ thế kỷ 13 đến nay, các bạn ạ! Phật tử không nên nghĩ.

HT. Thích Giác Quang

Leave a Reply

Your email address will not be published.