Kiến trúc độc đáo với câu chuyện kỳ ​​lạ về người cha tiền kiếp

Bất Động Sản
Rate this post

Chùa Hải Đức Nha Trang là công trình Phật giáo nổi tiếng nhất của tỉnh Khánh Hòa. Ngôi chùa sở hữu thiết kế cổ kính đậm chất Á Đông, cảnh quan đẹp và không gian yên tĩnh. Nơi đây còn gắn liền với câu chuyện kỳ ​​lạ về người cha tiền kiếp.

Lịch sử chùa Hải Đức Nha Trang

Chùa tọa lạc trên núi Trại Thủy ở số 51 đường Hải Đức, phường Phương Sơn, phía Tây thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Chuyện xưa kể rằng vào cuối thời Tự Đức, khoảng năm 1883, khi thành phố Nha Trang chỉ là một làng chài ven biển, thiền sư Viên Giác đã cho xây dựng một ngôi chùa tên là Duyên Sanh Tự. Công lao dạy học của ông đã khiến nhiều người dân trong làng đến xin xuất gia quy y.

Cảnh tấp nập thiện nam tín nữ đến chiêm bái hàng ngày, và “vào những ngày cuối năm, chư Tăng và cư sĩ thường họp bàn việc Phật sự, khiến dân làng đặt ngôi chùa của Ngài vào vị trí đặc biệt. tên phổ biến là chùa Hội để diễn tả cảnh tụ họp đông người trong chùa ”. Vì con đường này có hai ngôi chùa nằm gần nhau (chùa Hội Phước, thường gọi là chùa Cát, chùa Hội) nên người Pháp đặt tên đường là “Rue des deux pagodes”, đường Hai Chùa.

Chùa Hải Đức do thiền sư Viên Giác xây dựng vào năm 1883, ban đầu chỉ là một thảo am, có tên là Duyên Sanh Tự.

Mặt tiền chùa Hải Đức.

Về nội dung và giá trị của các câu đối chữ Hán trong chùa Việt Nam

Đến năm Thành Thái thứ 3 (1891), chùa Hải Đức được mở rộng quy mô, trở thành một thiền viện trang nghiêm thời bấy giờ. Trong lần đại trùng tu này, vì ngôi chùa được xây dựng trên địa bàn làng Phước Hải và nhận thấy người dân trong làng sống có đạo nên ngài Viên Giác đã ghép hai chữ cuối lại để tạo cho chùa một cái mới. tên: Hải Đức Tự. .

Khi Viên Giác viên tịch, đệ tử của Ngài là Hòa thượng Phước Huệ (thế danh Ngộ Tánh, pháp danh Nguyễn Hưng Long, quê Quảng Trị) kế vị. Hòa thượng Phước Huệ trụ trì chùa Kim Quang, Huế, “Nên đến năm Khải Định thứ sáu (1921), Hòa thượng lại được triệu vào Huế làm trụ trì chùa Kim Quang và làm Tăng Cang tại Bảo. Chùa Quốc, chùa Hải Đức phải giao cho đệ tử chăm sóc, thỉnh thoảng Hòa thượng đến thăm, rồi tuổi già sức yếu, đi lại khó khăn, năm Bảo Đại thứ 14 (1938), Hòa thượng giao nhiệm vụ. của trụ trì chùa Hải Đức đến Bích Không Đại sư.

Chưởng môn Bích Không (pháp danh Trung Dân, tên thường gọi là Hoàng Hữu Đang, quê quán Quảng Trị) xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Ngài đậu tú tài năm Giáp Ngọ (1918), đắc pháp năm Ất Hợi (1935) tại giới đàn chùa Sắc tứ Tịnh Quang, tỉnh Quảng Trị, nên còn được gọi là Giác Phong Đại sư.

Khi tiếp nhận chùa Hải Đức, ngôi chùa đã quá cũ, thêm vào đó, thành phố Nha Trang mỗi ngày một đông đúc, xe cộ ngày càng ồn ào, thiền môn khó giữ được không khí trang nghiêm, thanh tịnh. Được sự đồng ý của Hòa thượng Phước Huệ, Ngài đã chọn một địa điểm thích hợp để dời chùa Hải Đức.

Sau ba năm rong ruổi khắp các vùng núi, thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa, Sư Ông đã tìm được một nơi vừa thích hợp cho việc tu hành của người xuất gia, vừa thuận tiện cho việc cứu cánh phát nguyện Đại thừa. Đó là: “Đảo Trại Thủy.”

Kiến trúc tinh xảo trên mái ngói của chùa Hải Đức Nha Trang

Kiến trúc tinh xảo trên mái ngói của chùa Hải Đức Nha Trang

Vậy vị trí của đồi Trại Thủy nhìn ra toàn cảnh thành phố Nha Trang có gì đặc biệt để Sư cô Giác Phong vui mừng chọn nơi đây xây dựng chùa Hải Đức? Chuyện kể rằng: “Vùng đất Nha Trang, theo phong thủy hay còn gọi là Thầy Địa, là một sự kiện trọng đại: tứ triều, tứ linh tụ hội. Tứ triều ám chỉ bốn phía có nước bao quanh. Cột Tứ Linh Thú là sự mượn hình tượng của bốn ngọn núi với hình tượng bốn con thú tụ lại để trấn giữ linh khí: núi Cảnh Long ở Chứt là con Rồng, tục gọi là “Rồng Hỷ Thủy” nghĩa là Rồng xanh vờn nước. Núi Sinh Trung ở Hà Ra là con Voi. Vì núi đứng cạnh đầm Xương Huân nên có tên là “Bách Tượng gặp hồ”, nghĩa là con voi trắng cuộn hồ. Đảo Trại Thủy là con Dơi. Vì trước mặt núi, ở “đầu dơi” có một cái bát nước tròn như vầng trăng, nên gọi là “Ngọc Bạc Hàm Hoàn” tức là Ngọc dơi có chiếc nhẫn. Đảo Hoa Sơn tục gọi là Núi Một, tức là Hòn Rùa. Vì trên núi có một ngôi tháp cổ nên được gọi là “Kim Quy Đôi tháp”, nghĩa là Rùa Vàng có tháp. Vùng đất của sự giàu có và giàu có […] Cù lao Trại Thủy hình con dơi nằm dang rộng đôi cánh, đầu quay về hướng Tây Nam. Chùa Bửu Phong sừng sững trên đầu dơi. Phía sau và hai bên trái phải đều được bao phủ bởi những cánh dơi, nhưng phía trước là núi non, đồng ruộng, làng mạc, phố xá, sân bay, tuyến đường sắt… sống động nhưng không ồn ào, bao trùm. một tầm nhìn rộng lớn có màu sắc luôn thay đổi […] Bây giờ, sau chùa, nơi lưng dơi, có Kim thân Phật Tổ ”.

Rồi phải trải qua bao nhiêu khó khăn, vất vả bao nhiêu, Thầy mới có thể bày ra bờ cõi mới để dỡ non. Sư Ông dời tháp tổ và mộ các vị thần trong vườn chùa cũ về Trại Thủy và khởi công xây dựng chùa Hải Đức.

Khởi công xây dựng từ đầu năm Quý Mùi (1943) đến đầu năm Quý Dậu (1945).

Cảnh đẹp, ánh sáng cao. Tuy gần thành phố nhưng cách biệt với trần tục. Tuy đặt trụ sở tại một thành phố phồn hoa nhưng nơi đây vẫn giữ được vẻ yên tĩnh và thanh bình.

Đường vào chùa Hải Đức.

Đường vào chùa Hải Đức.

Ở cột trước chính điện có ba câu đối. Câu giữa:

Hải Thủy Thanh Thánh ngàn pho tượng hiện ra;

Hương Đức nhẹ nhàng, cần thiết

Câu tiếp theo: Hạnh Thảo tạo thân xuất thế, tửu sắc; Vi Phong giảng pháp ngoạn đầu hai bên:

Kim Sơn Long Sơn thời tả hữu;

Nha Hai Phước Hải không có trở lại

Chùa Hải Đức được xây dựng theo phong cách Á Đông, trang nghiêm và cổ kính.

Tuy không nguy nga tráng lệ như những ngôi chùa lớn ở Thần Kinh như Thiên Mụ, Diệu Đế, không nguy nga như Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định, nhưng so với tất cả những ngôi chùa cổ và mới ở Khánh Hòa thì chùa Hải Đức là lớn nhất, đẹp nhất.

Chánh điện chùa Hải Đức.

Chánh điện chùa Hải Đức.

Ngôi chùa gắn liền với câu chuyện kỳ ​​lạ của người cha kiếp trước

Chuyện kể rằng vào năm 1956, một kỹ sư người Mỹ tên là Blank M quyết định sang Việt Nam vì tuổi thơ của anh đã chứng kiến ​​một câu chuyện: Nhiều đêm liền, anh nằm ngủ nghe ai đó kể, anh tìm đến một đất nước tên là Việt Nam để gặp cha mình. trong một kiếp trước. Anh ấy rất giống bạn và hiện đang là trụ trì của một ngôi chùa, nằm trên một ngọn đồi gần một thành phố.

Sau đó anh đăng ký với quân đội Hoa Kỳ để tình nguyện ở Việt Nam. Vốn là một kỹ sư giao thông công chính, có điều kiện đi lại, anh đã đi tìm “người cha kiếp trước” như trong mơ của mình khắp nơi, từ An Giang, Cần Thơ, Sài Gòn, Đồng Nai… .nhưng không tìm thấy. thấy một vị trụ trì giống tôi.

Năm 1958, ông vào làm việc tại Nha Trang. Sau 2 ngày đi tìm chùa, Ngài vào chùa Hải Đức (gần chùa Long Sơn, TP. Nha Trang ngày nay). Khi đến chùa, sư trụ trì đang tụng kinh, các tiểu hòa thượng ở đây rất bất ngờ vì có người nước ngoài giống sư trụ trì Thích Phước Hạnh. Người kỹ sư kể câu chuyện của mình (thông qua một người phiên dịch), mọi người đều vô cùng kinh ngạc. Khi Hòa thượng Thích Phước Hạnh tụng kinh xong, nghe tiểu sư kể chuyện, vị tiểu hòa thượng vô cùng ngạc nhiên nên vội mời Blank M. đến gặp. Hai người gặp nhau, Blank M kể lại giấc mơ của mình và Hòa thượng Thích Phước Hạnh sau này đã nhận anh kỹ sư làm con.

Không gian bên trong.

Không gian bên trong.

Khoảng hai tuần sau, nhà chùa làm lễ cắt tóc cho Blank M và đặt tên là Thích Chơn Trí.

Sau đó, hai cha con kiếp trước đã chụp ảnh để làm giấy chứng nhận, trong ảnh có câu “thất lạc con tìm được chủ nhật ngày 27 tháng 4 năm 1958”.

Sau đó, nhà cầm quyền Sài Gòn yêu cầu Hoa Kỳ triệu hồi Black M về nước vì chính quyền Ngô Đình Diệm cho rằng câu chuyện này sẽ có lợi cho Phật giáo miền Nam.

Hòa thượng Thích Phước Hạnh mất năm 1963, chùa có điện cho Hòa thượng Thích Chơn Trí không về thăm được.

Tôi vì một câu chuyện tình cờ đọc được nên đến chùa Hải Đức, chụp tấm ảnh này và đưa lên đây. Và trong thâm tâm, tôi thấy cuộc đời còn nhiều điều phải suy nghĩ. Không hiểu thì có nghĩa là trí tuệ còn dốt, chứ không thể nói là “mê tín” như người ta vẫn “nói” trên báo hàng ngày.

Leave a Reply

Your email address will not be published.